Showing posts with label Tuyến xe - Đường xá. Show all posts
Showing posts with label Tuyến xe - Đường xá. Show all posts

Monday, June 23, 2014

Phố đồ cổ giữa lòng Sàigòn

Nằm khuất sau đường Hàm Nghi, phố đồ cổ Lê Công Kiều bao đời nay vẫn bình yên lặng lẽ dù ở ngay trung tâm Tp. Hồ Chí Minh. Con đường này trở thành một nét đặc biệt vì đây là con phố duy nhất của thành phố bán tập trung các loại đồ cổ.

Đường Lê Công Kiều nằm một góc khuất ở quận I và có thể tin rằng nhiều người sinh ra ở Sài Gòn vẫn chưa từng đến, dù nó rất gần chợ Bến Thành – một chợ rất nổi tiếng ở Sài Gòn. Con đường nhỏ, có lề không lớn, êm đềm vì không có mấy xe cộ. Những người sống ở con phố này vẫn nhớ, hơn 10 năm trước, vị tổng thống tóc vàng ở đất nước hùng mạnh nhất thế giới đi dọc con phố này để xem chợ đồ cổ bày dọc vỉa hè và trong các tiệm nhỏ. Chuyến đi dạo ngắn ngủi của ông Clinton đã góp phần tạo nên thương hiệu cho con phố nhỏ này.

< Một cửa hàng bán đồ cổ trên phố Lê Công Kiều.

Ngày xưa, phố Lê Công Kiều chỉ là một con hẻm. Năm 1920, chính quyền Pháp mở rộng và đặt tên là đường Reims. Năm 1955, chính quyền Sài Gòn đổi thành Lê Công Kiều, tên của một đốc binh thời phong trào Cần Vương chống Pháp.

Phố này chỉ dài hơn 200m, vài chục năm nay diện mạo hầu như không thay đổi nhiều. Các cửa hàng đều được đánh số mà không cần bảng hiệu gì. Người mua muốn kiếm loại nào thì cứ nhìn vào số là tìm đến.

< Nhiều người đam mê thú chơi đồ cổ có thể tìm thấy ở con phố này những cổ vật có giá trị.

Ví dụ, khách muốn kiếm các mặt hàng gốm sứ thì cứ vào các cửa hàng số 19, 21, 23. Muốn kiếm chiêng cổ, đầu tượng Khmer thì vào các cửa hàng số 34, 36, 38, 40. Muốn kiếm các loại bàn ghế, tủ, trường kỷ thì vào các cửa hàng số 15 và 36. Phía cuối đường lại có rất nhiều cửa hàng bán đồ sơn mài, đồ gỗ, hoành phi, câu đối… Vì vậy mà phố Lê Công Kiều được người ta gọi là con phố xưa nhất Sài Gòn, vì ở đây người ta đang mua bán “thời gian”. Thời gian ở đây là đồ cổ, càng lâu năm càng giá trị.

“Phố đồ cổ mở cửa từ lúc 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều hàng ngày. Giới chơi cổ vật thường xem đây là nơi có thể mua được những đồ vật quý. Nếu là người sành về đồ cổ và gặp may, họ có thể sở hữu được những món đồ rất giá trị mua với giá rẻ”.

Cho dù có nhiều bài báo nói rằng 80% tiệm ở phố Lê Công Kiều bán những món gốm sứ hay tranh pháo mới được sản xuất rồi làm cho cổ đi, giới sưu tầm cổ vật và yêu thích mỹ thuật vẫn xem đây chính là thiên đường của họ. Cổ vật luôn thu hút mãnh liệt vì vẻ đa dạng và tinh xảo của nó. Có thể thấy dấu ấn văn hóa khắp thế giới trên đồ bày bán ở đây.

Đồ cổ Trung Hoa luôn ngự trị như một ông vua không ngai – dù nhiều nhất vẫn là dòng đồ non đầu thế kỷ 20 thời Mạt Thanh – đặc biệt là sứ xanh trắng vì vẻ đẹp trong trẻo lộng lẫy nhưng chân phương. Gốm, sứ phương Tây lạ mắt, có khi gặp những món tuyệt đẹp như đồ Wedgwood xanh lam nhạt với những chi tiết chạm khắc tinh xảo hay gốm Nhật Bản Imari, Satsuma đầy màu sắc. Đồ gỗ xưa ở đây không bày ngồn ngộn như khu bán đồ gỗ trên đường Pasteur đối diện café Terrace.

< Một du khách người Trung Quốc tình cờ tìm thấy bức tượng Phật Bà Quan Âm có niên đại từ thời nhà Thanh tại một cửa hàng bán đồ cổ trên phố Lê Công Kiều.

Ở đây có những món tinh hoa nhất, được cẩn ốc xà cừ đẹp nhất. Tủ Huế vừa chạm lộng vừa cẩn xà cừ, có giá hàng trăm triệu. Bộ bàn ghế Louis đầu thế kỷ 20 với những chi tiết chạm khắc đậm chất Nam bộ với trái điều, khổ qua, mít hay sầu riêng… lưu lạc từ những ngôi nhà xưa cùng niên đại với Huỳnh Phủ ở Bến Tre hay nhà cổ Bình Thủy.

Tôi đi ngang qua phố Lê Công Kiều từ những năm 80 để sửa máy ảnh ở tiệm Phạm Thê rất nổi tiếng ở đây. Lúc đó đồ cổ không bán rầm rộ.

Những năm cuối 1990, đầu năm 2000 có thể là thời hoàng kim của Lê Công Kiều khi kinh tế khấm khá, khách du lịch đến nhiều và các cuộc triển lãm cổ vật ở các bảo tàng đã kích thích người ta tìm về cổ vật như một thú chơi cao cấp. Bây giờ Lê Công Kiều im ắng hơn, ngồi trong quán cà phê ngó ra đường phố, tôi mới nhìn sâu con phố nhỏ này.

Dãy phố vẫn còn một ít nhà xây kiểu Tây từ thời đường mang tên Reims trước 1945. Đâu rồi nhà in Thạnh Thị Mậu, nơi học nghề của danh ca Sáu Thoòng chuyên trị vọng cổ thời đó? Và đâu là tòa soạn báo Đại Việt ở nhà số 5 của cụ Hồ Biểu Chánh những năm 1940, nơi cụ làm việc hằng ngày và có lần hứng chí mời anh em tòa soạn đi ăn ở đường Pellerin (Pasteur) gần đó. Thấp thoáng đâu đó hình bóng cụ Phan Khôi lúc làm báo ở Sài Gòn xưa năm 1924, tay cắp cặp, lơn tơn ghé vô nhà người quen rủ đi uống trà Bạch Mao hay Kỳ Chưởng.

< Hai vị du khách người Nhật tỏ rất thú vị với những món đồ cổ được bày bán ở đây.

Một thế giới xưa cũ ngồn ngộn phơi bày, kích thích những người hoài cổ từng chìm đắm trong những trang sách về văn hóa hay có một quá khứ huy hoàng. Lê Công Kiều, một con phố độc đáo và có khi là độc nhất ở Việt Nam, luôn bị nghi ngờ, có khi dè bỉu mà vẫn luôn hấp dẫn như một huyền thoại, không ngừng làm gạch nối từ quá khứ đến hiện tại trong mắt khách vãng lai. Dù sao, nó vẫn là một trong những con phố đậm chất Sài Gòn nhất để nhớ về, cho những ai từng biết nó khi đã xa Sài Gòn.

Tổng hợp từ Vietnam.vnanet, Một Thế Giới
Travel79.net

Sunday, June 22, 2014

Thăm cầu treo Kon Klor - Kon Tum.

Cầu treo Kon Klor thuộc địa phận làng Kon Klor, thị xã Kon Tum là chiếc cầu treo công nghiệp to đẹp nhất khu vực Tây Nguyên.

Cầu nối liền hai bờ của dòng sông Đăk Bla, huyền thoại những dòng sông chảy ngược về Tây của đất Tây nguyên, chảy từ Quảng Ngãi về đến thuỷ điện Yaly, nối thị xã Kon Tum với vùng kinh tế mới.

Cầu có chiều dài 292m, rộng 4,5m, xây dựng vào ngày 3/2/1993 và hoàn thành ngày 1/5/1994, có màu vàng cam thật nổi bật trong cái nắng vàng oi ả. Dòng sông Đăk Bla mùa nắng trơ ra những hòn đá cuội bên lòng sông êm ả, hài hòa, bóng chiếc cầu uy nghi in dưới dòng nước phẳng lặng.

Cầu có chiều dài 292m, rộng 4,5m. Bóng chiếc cầu uy nghi in dưới dòng nước phẳng lặng.

Dưới cái nắng chiều tà từng đoàn xe bò chở đầy ắp những củ khoai mì vừa mới đươc thu hoạch trong ngày, những người nông dân vội vã trở về nhà sau một ngày lao động vất vả và bọn trẻ đang nô đùa trong làn nước mát lạnh, trong lành, tạo ra một không khí thanh bình của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ.

< Cầu Kon Klor đã bắt nhịp đôi bờ sông đưa mọi người đến gần nhau hơn...

Bao quanh Kon Klor là những ngọn núi được bao phủ bởi những nương dâu xanh rì của người dân nơi đây. Cầu Kon Klor đã bắt nhịp đôi bờ sông đưa mọi người đến gần nhau hơn, chiếc cầu được đưa vào sử dụng thì cũng chấm dứt luôn những chuyến đò ngang bằng xuồng độc mộc đã từng bao năm qua lại đôi bờ.

Đến đây, du khách có thể ghé thăm làng dân tộc Bah Nar - Kon Klor ở hữu ngạn dòng sông, uống với họ can rượu cần rồi lên đường vượt dòng sông qua cầu treo để đến một vùng đất phù sa trù phú. Đó là những vườn chuối, vườn cà phê và các loại cây ăn quả. Vượt con đường quanh co khoảng 6km, du khách đến làng KonKơtu, một làng dân tộc Bah Nar còn giữ nguyên được những nét sinh hoạt và cảnh vật thiên nhiên hoang sơ.

Làng du lịch văn hóa KonKơtu có nhà rông cao, đẹp, bạn sẽ được thỏa mãn nhu cầu ngủ lại qua đêm, tham gia các sinh hoạt giao lưu văn hóa, uống rượu cần, nghe kể Khan bên bếp lửa bập bùng cùng người dân bản địa. Khi từ biệt làng trở về, chắc chắn bạn sẽ thấy hài lòng với những món quà lưu niệm do bàn tay khéo léo của người dân ờ đây làm bằng vật liệu từ núi rừng.

Theo Travel Zizi
Travel79.net

Saturday, June 14, 2014

Mạch đường tâm linh Đông - Tây Yên Tử

(BGO) - Khu vực Đồng Thông thuộc xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động (Bắc Giang) vốn thuộc quần thể di tích Phật giáo Yên Tử gồm nhiều di tích như: đền, chùa Trình, chùa Cầu, chùa Kim Quy, đèo Bụt, núi Phật Sơn. Quần thể thắng tích này nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử là vùng đất địa linh, có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, là một phần của mạch đường tâm linh Đông-Tây Yên Tử.

Từ các tư liệu lịch sử và khảo sát thực tế, có thể nhận thấy từ thời Lý (thế kỷ XI) và sau đó là thời Trần (thế kỷ XIII – XIV) đến các triều đại sau này, khu vực núi Yên Tử và Tây Yên Tử đã có dấu tích các thiền sư đến nơi này tu hành dựng chùa. Với vị trí địa lý, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, hội tụ khí thiêng rất phù hợp với việc dựng chùa, tu thiền, giác ngộ đạo pháp, xứng đáng là vùng đất linh, chốn Tổ của thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền thuần Việt, tiêu biểu cho bản sắc văn hoá và ý thức độc lập tự chủ của dân tộc.

Việc dựng chùa ở các điểm cao này ngoài để tu hành, tham thiền học đạo còn  cho thấy nhãn quan chiến lược của các vương triều phong kiến xưa lưu tâm đến vấn đề an ninh quốc gia ở khu vực Đông Bắc – một vùng đất có vị trí quan trọng, trấn giữ kiểm soát cả khu vực rộng lớn địa đầu của Tổ quốc về quân sự, chính trị và kinh tế. Từ đó có cái nhìn ở góc độ du lịch văn hóa, tín ngưỡng Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử trong thời đại ngày nay và có thể hình thành các tuyến du lịch văn hóa tín ngưỡng Phật giáo Trúc Lâm, gồm: Tây Yên Tử và Đông Yên Tử.

Kết hợp tuyến Đông-Tây Yên Tử là một con đường văn hóa tâm linh ý nghĩa. Từ trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm đi cụm di tích thứ nhất với chùa Bình Long, Yên Mã, Hòn Tháp (Lục Nam) đi tiếp Côn Sơn, Kiếp Bạc, chùa Thanh Mai (Chí Linh - Hải Dương), tiếp đến chùa Hồ Bấc, khu đền Trần, khu sinh thái/ đền Suối Mỡ (Lục Nam); Trung tâm/chùa Vĩnh Nghiêm đi chùa Bình Long, Yên Mã, Hòn Tháp.

Sau đó đi tiếp chùa Côn Sơn, đền Kiếp Bạc, chùa Thanh Mai, Ngũ Đài Sơn; đến trung tâm Phật giáo Quỳnh Lâm, đền An Sinh, chùa/am Ngoạ Vân, Hồ Thiên, đi tiếp xuống cụm di tích thứ ba chùa Đồng Vành, Am Vãi, đền Trần (Lục Nam), sau đó đi tiếp lên chùa Đồng, xuống Bảo Sứ, Một Mái, chùa Tiên, Hoa Yên, Giải Oan (Quảng Ninh) và kết thúc.

Từ Vĩnh Nghiêm - đến hết toàn bộ di tích Tây Yên Tử, sau đó lên chùa Đồng, Hoa Yên, Giải Oan và quay về Quỳnh Lâm, An Sinh, Ngoạ Vân, Hồ Thiên, về Côn Sơn, Kiếp Bạc hoặc là từ Vĩnh Nghiêm đi Côn Sơn, Kiếp Bạc, Thanh Mai, đến Quỳnh Lâm, An Sinh, Ngoạ Vân, Hồ Thiên để rồi lên Hoa Yên, chùa Đồng và xuống chùa Đồng Vành, đền Trần, chùa Am Vãi rồi trở về Suối Mỡ, Hồ Bấc và kết thúc ở Bình Long, Hòn Tháp, Yên Mã.

Để con đường du lịch văn hoá tín ngưỡng Trúc Lâm Yên Tử trở thành hiện thực cần có sự chung tay hành động trong việc bảo tồn sinh cảnh của di tích, cụm di tích cũng như toàn bộ khu vực thuộc núi Yên Tử và các vùng phụ cận. Nếu có  lộ trình khai thác, phát huy, giữ gìn văn hoá Trúc Lâm Yên Tử thiết thực, chắc chắn trong thời gian không xa nữa, con đường du lịch văn hoá tín ngưỡng Trúc Lâm Yên Tử sẽ trở thành hiện thực, đáp ứng mong mỏi của du khách trong và ngoài nước đến chiêm bái, ngưỡng mộ Yên Tử huyền tích, hùng vĩ.

Theo Thân Quang Huy (báo Bắc Giang)
Travel79.net

Tuesday, June 10, 2014

Phượt Sài Gòn - Nha Trang theo đường ven biển

(VNE) - Thay vì chỉ gà gật trên xe khách, nếu bạn rong ruổi chặng đường hơn 600 km từ Sài Gòn đi Nha Trang bằng xe máy, bạn sẽ được trải nghiệm những khoảnh khắc nắng vàng và biển xanh miên man.

Hành trình quen thuộc từ Sài Gòn đi thành phố biển sẽ biến thành chuyến khám phá với những người thích phiêu lưu bằng xe máy. Từ điểm xuất phát, có thể khởi hành đi Xuyên Mộc - La Gi - Kê Gà - Phan Thiết - Mũi Né - Ninh Chữ - Vĩnh Hy - Cam Ranh - Nha Trang. Đi bằng xe máy còn mang lại những trải nghiệm khó quên với nhiều dạng mặt đường, tận hưởng trọn vẹn phong cảnh biển đẹp mê hồn và thưởng thức những đặc sản thú vị.

Nhưng phượt cũng đồng nghĩa với nhiều rủi ro, vì thế việc chuẩn bị kỹ trước mỗi chuyến đi là điều cần thiết. Mọi thứ đều phải tính đến và dự phòng tất cả những gì có thể. Sức khỏe là điều tối quan trọng. Nên mang theo một số đồ uống bổ sung bởi những nơi đi qua vốn có "đặc sản" là nắng và gió. Kem chống nắng là thứ không thể thiếu, nhất là với các tay lái nữ. Nên có trang phục kín nhưng thấm mồ hôi, chuẩn bị sẵn áo mưa.

Vì chạy theo cung đường ven biển, nên mang theo giày, dép dự phòng. Ngoài ra trong hành lý sẽ có những món đồ cần thiết khác như găng tay, đèn pin, bật lửa, túi sơ cứu... Và vì chạy xe máy, trước khi đi nên mang xe đi bảo dưỡng, thay dầu, kiểm tra lốp... và mang theo một số dụng cụ sửa chữa xe cần thiết.

Với những người chạy xe theo đoàn, cần tuân thủ luật giao thông cũng như các quy định của nhóm. Mỗi nhóm không nên quá đông để dễ dàng quản lý và liên lạc với nhau. Chặng đường có một số đèo dốc, vì thế nên chú ý tốc độ, làn đường. Các xe không nên chạy quá gần nhau để có thời gian và không gian tránh nhau trong trường hợp có chướng ngại vật hoặc va chạm.

Hành trình gần như toàn đường ven biển nên vắng xe và đường khá đẹp, ngoại trừ một số chặng nhập vào đường quốc lộ, qua thành phố hay thị trấn đông xe hay một vài đoạn đang làm đường. Cần tuân thủ luật giao thông ở mọi nơi đi qua, đặc biệt giữ đúng tốc độ ở một số địa điểm có sự xuất hiện thường xuyên của cảnh sát giao thông. Mang đủ giấy tờ tùy thân và luôn đội mũ bảo hiểm.

Đường đi sẽ có cả đường bê tông, đường nhựa, đường đất hay toàn đá dăm. Những đoạn đường xấu có thể kể đến đoạn từ Bàu Trắng đi Phan Rí Cửa ở Bình Thuận với chiều dài khoảng 20 km. Ngược lại, rất nhiều đoạn đường nằm ngay ven biển, chỉ vài bước chân đã xuống với làn nước mát trong xanh cùng cát mịn. Đường ven biển nên cũng sẽ chạy qua những cụm resort hay nhà hàng san sát cả một đoạn dài.

Đường dài đầy nắng và gió, nên dừng nghỉ sau mỗi chặng ngắn. Bổ sung nước hay thoa thêm kem chống nắng. Có thể tranh thủ chợp mắt lấy sức vào bữa trưa để đảm bảo sức khỏe và sự tỉnh táo cho chặng đường tiếp theo.

Theo Minh Thủy (Vnexpress)
Travel79.net

Bọn mình là một trong những kẻ tiên phong đi trên con đường tuyệt vời này. Ngày nay, cung đường ven biển giảm dần hoang sơ như ngày cũ dù mặt lộ ngày càng tốt hơn, chỗ ăn uống dừng chân tạm nghỉ cũng nhiều hơn.
Đi mùa nắng: bạn đừng quên các thứ che chắn như khẩu trang lớn (che luôn cả cổ, gáy càng tốt), găng tay, vớ... vì nắng gắt sẽ làm da bạn ăn nắng và lột tất tật hết đấy.
ĐGD

Friday, June 6, 2014

Đường biển Vĩnh Lương-Nha Trang

(PNO) - Bắt đầu từ cầu Trần Phú về hướng Bắc, đường Phạm Văn Đồng (nối tiếp đường Trần Phú) với độ dài hơn 15km ôm trọn một phần thành phố Nha Trang, men theo biển chạy dài đến Vĩnh Lương.

< Khúc quanh con đường, một bên là biển xanh.

Nổi tiếng bởi các quán ăn đặc sản biển, các nhà hàng, khách sạn, resort… con đường ngoằn nghoèo vòng quanh núi, một bên là vách đá, một bên là biển xanh khá ngoạn mục.

Con đường không nhiều xe, du khách có thể dừng chân ngắm cảnh biển bên dưới, thưởng thức tiếng ve sầu râm ran. Điểm cuối con đường là khu vực làng chài Vĩnh Lương.

Vào buổi sáng ghe cá về bến, khách có thể mua được hải sản tươi, ngon. Ở đây người bán có dịch vụ đóng gói hải sản vào thùng xốp cho khách mang đi đường xa. Buổi chiều, ghe thuyền về đậu tấp nập trên bến cảng, tạo nên bức tranh đẹp bình yên trên biển.

< Nhiều du khách thích dạo chơi bằng xe đạp trên đường ven biển nên thơ này.

Du khách thích dạo chơi bằng xe đạp theo con đường này. Nơi đây cũng thu hút dân “phượt” và các nhiếp ảnh gia. Từ trên cao, bạn có thể ghi lại những tấm ảnh đẹp về phong cảnh biển, cảnh các câu thủ đang say sưa câu cá trên những mỏm đá, những du khách bơi lặn dưới làn nước trong xanh…

< Chiều bình yên.

Có dịp đến Nha Trang, bạn hãy thuê xe máy và cùng nhau khám phá con đường biển này, bạn sẽ có những trải nghiệm thú vị.

Điền Gia Dũng: Trên đoạn đường này có lối ra gành đá Bàn Than (bên đá bên biển khá đẹp), là chốn bạn nên ghé.

Theo Báo Phụ Nữ
Travel79.net

Friday, May 30, 2014

55 năm con đường mang tên Bác

KỶ NIỆM 55 NĂM NGÀY MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH (19/5/1959- 19/5/2014)

Năm mươi lăm năm trước đây, tháng 5 năm 1959; trong khi cách mạng miền Nam còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về giao thông liên lạc. Để chi viện cho Cách mạng miền Nam: ngày 19 tháng 5 năm 1959, một tuyến vận tải chiến lược được thành lập để chi viện từ miền Bắc vào miễn Nam.

Ông Võ Bẩm được giao nhiệm vụ tổ chức và phụ trách đoàn vận tải lấy tên là Đoàn 559, sau một thời gian nắm tình hình, đoàn đã tổ chức được tuyến vận chuyển gùi, thồ để đưa vũ khí, lương thực chi viện cho mặt trận… Làng Ho, Phong Nha là địa điểm tập kết lương thực, vũ khí, phương tiện vận chuyển gồm hàng ngàn chiếc xe đạp Phượng Hoàng.

Tháng 8/1964, do sự kiện vịnh Bắc Bộ, Mỹ điên cuồng leo thang đánh phá miền Bắc, việc vận chuyển hàng hóa đạn dược càng khẩn trương.

Trung ương Đảng và Bác Hồ đã giao cho Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông vận tải (GTVT) nghiên cứu khẩn trương mở tuyến vận tải bằng cơ giới, để đáp ứng với tình hình. Đây là một nhiệm vụ có tính chiến lược.

Đồng chí Thiếu tướng Phạn Trọng Tuệ- Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ GTVT, được giao nhiệm vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559. Ngoài đồng chí Phan Trọng Tuệ còn có đồng chí Nguyễn Tường Lân và nhiều đồng chí ở cục, vụ, viện… cùng hàng ngàn cán bộ công nhân và xe máy, thiết bị đổ bộ vào Trường Sơn.

Quyết tâm mở tuyến độc phá để vận chuyển hàng hóa vũ khí cho chiến trường miền Nam. Việc mở con đường từ Đông sang Tây nhằm giải quyết ách tắc khi mùa mưa đến. Vì vậy khu vực Phong Nha, Ta Lê được coi là tầm ngắm, tuy nhiên mở ở khu vực này gặp phải dãy núi đá tai mèo sắc nhọn, gặp không ít khó khăn. Với trí thông minh và lòng quả cảm, ta đã quyết định mở đường 20 Quyết thắng với chiến dịch “Chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi”. Một sự kiện chưa từng có trong lịch sử mở đường, trong khi vừa thiết kế vừa thi công.

< Đường HCM nhánh Tây tại Vít Thù Lù, tại đây đường HCM giao với đường thống nhất 16A.

Kết hợp thủ công và cơ giới, ta đã dùng mìn, bộc phá, kết hợp bộ đội công binh, bộ binh, thanh niên xung phong (TNXP), công nhân viên giao thông làm đến đâu mở kho đến đó. Chỉ trong 77 ngày đêm đường đã thông xe.
Từ thực tế mở đường 20 Quyết thắng, nhiều bài học về chiến tranh nhân dân được rút ra, để rồi sau đó chúng ta mở một loạt các tuyến đường vận tải khác như: Đường 10 (còn có tên là đường 20/7), đường 12A, 16A, 16E, 18…

Đường 10 là con đường sinh sau đẻ muộn thuộc hệ thống đường Trường Sơn trên đất Quảng Bình. Nhưng đường 10 trở thành con đường ác liệt gian khổ. Tháng 4/1967, Trung ương Đoàn và Bộ GTVT đã huy động 6.000 TNXP ở các tỉnh phía Bắc để tham gia mở đường 10.

Tốc độ mở đường 10 đạt kỷ lục, cứ một ngày mở được 1km, đường xuyên dưới tán lá rừng Trường Sơn. Đường mở đến đâu ta ngụy trang đến đấy. Khi hoàn thành con đường, có tới 200 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 700 người bị thương tật.

Mặc dù con đường được giữ bí mật đến phút cuối nhưng đến giữa năm 1968 địch đã phát hiện được và chúng dùng các loại bom đạn và thiết bị kỹ thuật để phong tỏa đường 10. Vì thế càng đi sâu vào phía trong càng ác liệt, nhiều cung đường địch dùng máy bay B52 rải thảm.
Khi đó lực lượng TNXP đa phần là nữ, tuổi đời 19- 20, lại phải sống trong thời tiết núi rừng khắc nghiệt, muỗi vắt, sốt rét, ghẻ lở. Họ lao động với cường độ cao, ăn uống thiếu thốn. Khẩu phần ăn cứ giảm dần từ 24kg gạo/tháng, còn 15kg, 10kg rồi 5kg/tháng.


< Cầu Sê Păng Hiêng.

Cuối cùng thì gạo hết. Trước tình hình đó, lãnh đạo Cục Công binh 1 và Bộ GTVT huy động tất cả xăng còn lại tập trung cho 5 chiếc xe mở đường máu trở về hậu cứ xin tiếp tế lương thực. Khi các xe chở đầy gạo trở lại đường 10, mọi người nín thở chờ đợi.

Xe qua ngầm Dân Chủ (còn gọi là ngầm Âm Phủ), máy bay Mỹ phát hiện, ném bom bắn phá, các chiến sĩ lái xe hy sinh, lương thực bị cháy hoàn toàn, vì vậy mới có câu “Chưa đi chưa biết đường 10, đi rồi mới biết sức người, sức ta”.

Sau đó Bộ GTVT quyết định thành lập Ban Xây dựng 67 với nhiệm vụ đảm bảo giao thông từ Đông sang Tây Trường Sơn. Ban Xây dựng 67 đã được tăng cường hàng vạn cán bộ chiến sĩ TNXP, công nhân viên giao thông bám cầu, bám đường đảm bảo giao thông thông suốt trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Phải nói rằng Ban Xây dựng 67 là lực lượng chủ yếu của Bộ GTVT, có mặt trên khắp các nẻo đường Trường Sơn. Nói đến đường Trường Sơn phải kể đến các trọng điểm ác liệt như: cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích, đèo đá Đẽo, ngã ba Dân Chủ…

Kết thúc chiến tranh Ban Xây dựng 67 có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ hy sinh và hàng ngàn chiến sĩ bị thương tật. Ban Xây dựng 67, Bộ GTVT và quân dân ta đã viết nên bản anh hùng ca bất tử. Sau chiến tranh cũng chính những con người ấy lại bắt tay vào xây dựng con đường mới, cây cầu mới, con đường Hồ Chí Minh.

20 năm sau chiến tranh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định xây dựng con đường Trường Sơn công nghiệp hóa, con đường mở ra tiềm năng kinh tế, hành lang phía Tây đất nước.


< Di tích lịch sử quốc gia đường Hồ Chí Minh.

Tháng 4/2000, Thủ tướng Phan Văn khải đã ra lệnh khởi công con đường mang tên Bác Hồ kính yêu. Đến nay, con đường Hồ Chí Minh hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn đã rộng mở. Dọc hai bên đường, các làng bản, các khu dân cư đã từng ngày thay da đổi thịt.

Hơi thở cuộc sống hiện đại đã tràn về dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh, tới các bản làng xa xôi của bà con dân tộc Vân kiều, Pa Kô dọc theo tuyến đường.

Con đường Hồ Chí Minh hiện đại hóa cũng là tiền đề cho sự phát triển nguồn lực của từng địa phương, để phát huy nguồn lực ấy một cách có hiệu quả thì các làng thanh niên lập nghiệp đã đang được hình thành.

< Một đoạn của đường HCM ngày nay.

Đặc biệt khi con đường mở ra thì tài nguyên khoáng sản, thủy điện, thủy lợi dọc miền Tây Tổ quốc sẽ biến thành của cải vật chất cho đồng bào các dân tộc Việt Nam dọc Trường Sơn.

Gần 40 năm kể từ khi đất nước được thống nhất, đường mòn Hồ Chí Minh năm xưa nay đã thành xa lộ nối Đông với Tây Trường Sơn. Con đường huyền thoại đã và đang cùng đất nước vươn tới đỉnh cao của thời đại, thời đại Hồ Chí Minh.

Bài của anh Bùi Hoằng
Hà Bình - Hà Trung - Thanh Hóa
Travel79.net trân trọng cảm ơn anh.

Ký sự đường 10 - Kỳ 1: Con đường thủy chung
Còn mãi những con đường...
Ký ức về con đường ra trận

Wednesday, May 28, 2014

Đèo Khuôn Do (Sơn Dương)

Đèo Khuôn Do nằm trên quốc lộ 2C thuộc địa phận hai thôn Khuôn Ráng, xã Phúc Ứng và thôn Vĩnh Sơn, xã Tuân Lộ (Sơn Dương). Đèo dốc và nguy hiểm nhất ở đoạn qua thôn Khuôn Ráng vì mặt đường lởm chởm, bong tróc đầy ổ trâu, ổ gà rất nguy hiểm - Ở đây từng là một điểm đen về tai nạn giao thông.

< Đoạn đèo vừa được hạ thấp.

Từ dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, đoạn qua địa phận huyện Sơn Dương, Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang do Sở Giao thông - Vận tải làm chủ đầu tư thực hiện, đến nay đoạn đèo này đã được mở mới, hạ thấp, giảm bớt độ quanh co nguy hiểm cho người và phương tiện khi tham gia giao thông.

Đèo Khuôn Do có tổng chiều dài khoảng 4 km. Trước đây khi chưa được hạ thấp, các phương tiện ô tô, xe máy đi qua đèo phải mất 15 phút.

Không những thế, đường bị xuống cấp bụi bay mù mịt, nhiều đoạn bị che khuất tầm nhìn tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông rất cao. Vì vậy, đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đáng tiếc trên đoạn đèo này.

Từ khi đèo được nắn cua, hạ thấp độ cao và quanh co, 2 bên đường có hệ thống rãnh thoát nước…, các vụ tai nạn giao thông đã giảm xuống. Đây thực sự là tín hiệu mừng cho người dân  tham gia giao thông.

Đèo Khuôn Do nằm trên Quốc lộ 2C, tuyến giao thông huyết mạch nối Sơn Dương với các địa phương khác như: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và thành phố Tuyên Quang nên lưu lượng người và xe tham gia rất lớn. Việc đèo được cải tạo, nâng cấp không chỉ làm giảm nguy cơ tai nạn giao thông, tăng mỹ quan cho tuyến quốc lộ, mà còn thúc đẩy thông thương, giao lưu trao đổi buôn bán phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Tổng hợp từ Báo Tuyên Quang
Travel79.net

Friday, May 9, 2014

Suối Mỏ Đá trên QL28

Suối không có tên, dân địa phương thường gọi là suối Mỏ Đá vì nó chảy qua một khu khai thác đá rộng mênh mông. Suối nằm trên đoạn đầu của đoạn quốc lộ Phan Thiết – Di Linh. Nếu theo lộ trình này, chúng ta sẽ bắt gặp suối khi vừa qua khỏi thị trấn Ma Lâm không bao xa. Tại đây có một đoạn đường mòn chạy cặp bên dòng suối.

Đường Phan Thiết – Di Linh cũng chính là QL28, được người Pháp mở ra từ đầu thế kỷ không bao lâu sau sự kiện phát hiện ra Đà Lạt. Tuy nhiên, vì đoạn đường quá hiểm trở, qua nhiều đèo dốc nguy hiểm, nên người ta đã làm đường Phan Rang – Đà Lạt thay thế. Một thời gian dài trong chiến tranh và sau năm 1975, con đường này ít được sử dụng.

Điểm đầu đường này là điểm giao cắt quốc lộ 1A đoạn qua thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; điểm cuối là thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Quốc lộ 28 đi qua thành phố Phan Thiết - thị trấn Ma Lâm (huyện Hàm Thuận Bắc)- thị trấn Di Linh (huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng) - thị trấn Quảng Khê (huyện Đắk Glong )- thị xã Gia Nghĩa. Toàn tuyến dài 197 km, trong đó đoạn thành phố Phan Thiết - thị trấn Di Linh dài 98 km, đoạn thị trấn Di Linh - thị xã Gia Nghĩa dài 99 km.

Quốc lộ 28 có một đoạn trùng với quốc lộ 20 (chừng gần 1 km) ở Di Linh. Trên quốc lộ có nhiều đèo dốc, trong đó đáng chú ý hơn cả là đèo Gia Bắc (đèo Di Linh) ở ranh giới tỉnh Bình Thuận - Lâm Đồng, đèo Quảng Khê. Quốc lộ 28 (đoạn từ Phan Thiết tới Di Linh)chỉ có 1 làn đường khá nhỏ hẹp, đường dốc quanh co, nhiều cua gắt. So với đèo Bảo Lộc hay đèo Prenn thì đèo Gia Bắc nguy hiểm và khó đi hơn nhiều. Đường được rải nhựa toàn tuyến nên xe du lịch 50 chỗ vẫn có thể lưu thông, tuy nhiên nếu 2 xe ngược chiều thì tránh nhau hơi khó.

Chúng tôi đi qua suối trên cuộc hành trình thám hiểm con đường Phan Thiết – Di Linh. Khi đến suối, một cảm giác sợ hãi bao trùm lấy chúng tôi. Quanh suối không một mái nhà không một bóng người, chỉ vài bụi cỏ lơ thơ trên đá. Khung cảnh như ở một sa mạc đá mênh mông. Dòng suối khi đó là mùa mưa, tuôi chảy ào ạt như một cơn hồng thủy đang ập đến, dữ tợn và hung hãn…

Suối không lớn, nhưng đứng trước nó, chúng ta sẽ có cảm giác mình quá bé nhỏ và mềm yếu trước thiên nhiên. Đó là cảm giác độc đáo mà dòng suối mang lại cho chúng ta khi đến với nó. Suối, thời điểm ấy chỉ có nước lạnh như cắt và đá nhọn.

Trong sự yên lắng đến tột cùng của đồi núi, đột ngột, tiếng mìn nổ phá đá từ xa vọng về. Dư âm những tiếng nổ ì ầm, trộn lẫn vào tiếng gào thét của dòng suối tạo nên thứ âm thanh ma quái khó tả. Những bức ảnh mà chúng tôi chụp ở đây, khi rọi ra, cũng mang một thứ sắc màu âm u kỳ lạ. Đến với suối Mỏ Đá, có lẽ không phải là đi tham quan mà đúng ra là đi “phiêu lưu”. Qua cầu sắt bắc ngang dòng suối, chúng ta sẽ tiếp tục cuộc hành trình trên con đường từ Phan Thiết đến Di Linh.

Chúng tôi đã đến Đà Lạt theo con đường này vào năm 1993, vào thời điểm Đà Lạt kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển.

Rời Phan Thiết lúc 6 giờ sáng, bằng xe gắn máy giữa lúc đài phát thanh loan báo là có bão, cuộc hành trình quả là đầy đe dọa đối với chúng tôi. Đoạn đường dài khoảng 100km này có đoạn chỉ còn là lối mòn vừa cho hai người tránh nhau, mà một bên là vực sâu không đáy, có đoạn phải đi xuống lòng suối, có đoạn phải vạch cỏ rậm cao quá đầu người mà đi. Trên bản đồ, dọc theo đường có rất nhiều suối và thác, có một số thác được ghi là lớn nhưng chúng tôi không có thời gian để dừng lại chụp ảnh và ghi chép vì phải đến Di Linh trước khi trời tối và một phần cũng vì sợ cơn bão đang đến.
Ngày nay, con đường nối liền Phan Thiết – Di Linh: QL28 trong đó có đoạn đèo Gia Bắc vẫn đẹp và hoang sơ vô cùng đấy bạn.

Theo Thư Viện Lâm Đồng
Travel79.net

Monday, May 5, 2014

Quanh co đường Đèo Ngoạn Mục

(DLVN) - Có thể nói Ngoạn Mục là một trong những đường đèo đẹp nhất Việt Nam. Chính tên đèo đã phần nào phản ánh được sự hấp dẫn của nó. Đèo dài 18,5km kéo dài từ độ cao 200m đến 980m. Đây cũng là đèo có độ dốc lớn nhất ở các tỉnh phía Nam.

Con đường đèo nối liền 2 tỉnh Lâm Đồng - Ninh Thuận có tên Ngoạn Mục đã có gần trăm năm nay (1917). Trước đây, con đường này là tuyến đường chính từ Nha Trang - Phan Rang sang Đà Lạt và cũng là tuyến đường hấp dẫn những tour du lịch khám phá. Đường đèo  uốn lượn theo triền đồi tạo hình vòng sóng, tầng lớp. Dọc theo đường đèo là rừng cây xanh, thác nước, và những mảng mây trắng. Con đường đèo dốc này chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng ven biển Nam Trung bộ với cao nguyên Đà Lạt bằng sự quyến rũ lãng mạn và hùng vĩ.

Đèo Ngoạn Mục còn gọi là đèo Sông Pha, người Pháp gọi là Belle Vue (Ngoạn Mục) là một trong những đèo đẹp nhất Việt Nam thuộc huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận, men theo những sườn núi dựng nối thung lũng Ninh Sơn với cao nguyên Lang Biang.

Con đường quanh co gấp khúc liên tục. Lên độ cao 400m , bạn sẽ có dịp nhìn lại đoạn đường đã đi qua. Trên đèo Ngoạn Mục có 4 đoạn cua khuỷu tay rất gấp, con đường uốn lượn mềm mại qua những đồi núi, sườn đồi lớn nhỏ khác nhau tạo hình vòng sóng, tạo nên những tầng đường mà nếu có dịp dừng chân trên đỉnh nhìn xuống, dễ thấy vẻ quyến rũ lãng mạn lẫn hùng vĩ của nó.

Từ trên đèo nhìn xuống thấy bờ vực dốc đứng, sâu thẳm, lấp ló qua những rặng thông là con đường ngoằn ngoèo khúc khuỷu với những chiếc ô tô ví như món đồ chơi chậm chạp đang bò lên hay xuống. Xa hơn là đồng bằng Phan Rang với dòng sông Cái uốn lượn. Hai dải núi cao ôm bọc lấy thung lũng Phan Rang chạy ra tận biển. Những ngày đẹp trời, từ trên đèo có thể thấy đường bờ cát trắng và nhấp nhô những con sóng lăn tăn.

Từ đèo Ngoạn Mục du khách có thể thu vào tầm mắt toàn bộ cảnh quang xung quanh được thiên nhiên kiến tạo thành một bức tranh hài hòa, với những suối thác cắt ngang vách núi, những dãy núi đồi với hệ thực vật khá phong phú đa dạng và đặc trưng.

Lên Ngoạn Mục vào buổi sáng bằng xe gắn máy, bạn dễ bị choáng ngợp bởi những cụm mây mịt mù. Lên Ngoạn Mục những chiều đông, có thể đứng ở vực cao ngắm ra khoảng rừng những vách đồi trước mặt, thấy những mảng rừng đổi màu lá xanh, lá đỏ như những bức hoạ tuyệt tác từ thiên nhiên.

Và lên Ngoạn Mục vào những đêm trăng sáng, dễ nhận ra một không gian ảo huyền giữa bao la núi rừng, cái cảm giác cô độc và trơ trọi giữa đất trời hoang lạnh lại khiến ta giật mình vì một tiếng chim đêm... Để rồi, khi đến Eo Gió, bạn thực sự ngỡ ngàng vì chỉ một khúc cua ngoặt khuỷu tay, bạn đã lạc vào một vùng khí hậu khác: bỏ lại sau lưng cái gắt gỏng của nắng Ninh Sơn để chìm vào những đợt gió cao nguyên lạnh buốt. Khoảng phân định hai miền khí hậu ấy chỉ cách mấy bước chân...

Với địa thế khá hiểm, Ngoạn Mục trở thành đoạn đường thú vị cho dân phượt  trên đường từ phố núi Đà Lạt xuôi về duyên hải nắng gió Phan Rang. Nếu đã đi qua nhiều ngọn đèo trên đất Việt, bạn sẽ thấy Ngoạn Mục không còn là một ngọn đèo vô tri mà nó là một thực thể sống động mang lấy nhiều trạng thái. Với nhiều khách lữ hành, hình như mỗi lần đi qua đây, thiên nhiên hoang dã, sự hùng vĩ núi non Ngoạn Mục đem lại nhiều trạng thái cảm giác khác nhau...

Đèo Ngoạn Mục bây giờ vẫn được thi công sửa chữa dù dự án nâng câp đã triển khai từ đầu năm 2009. Toàn bộ tuyến đường đèo dài gần 19km bị cày xới nham nhở, đất đá ngổn ngang, hệ thống biển báo hoen gỉ, vỡ nhiều. Tại các điểm sạt lở, một nửa thân đường đã bị nước cuốn trôi xuống vực, phần đường còn lại chỉ đủ cho 1 xe ô tô "bò" qua. Tại những điểm như vậy, hệ thống lan can chỉ là những cọc gỗ buộc dây ni-lông sơ sài, tạm bợ. Toàn bộ tuyến đèo lầy lội, trơn trượt, người và xe cộ lấm lem bùn đất...

Theo Du lịch VN
Travel79.net

Ngoạn mục đường lên xứ hoa
Khám phá đèo Ngoạn Mục

Wednesday, April 30, 2014

Khau Liêu - con đèo huyền thoại

(TTVN) - Khi đến Cao Bằng, chắc chắn không ai bỏ qua khu du lịch Bản Giốc. Và muốn đến được Bản Giốc hùng vĩ, nhất định bạn phải chinh phục được con đèo có cái tên rất ... Cao Bẳng: Khau Liêu.

“Mời anh lên Cao Bằng quê em, lên đèo Khau Liêu qua đèo Mã Phục, vượt qua rừng vầu, xuyên qua rừng trúc, như bầy ong, như bầy chim...”. Đó là, những câu thơ trong bài thơ “Mời anh lên Cao Bằng quê em” của nhà thơ Y Phương đã được phổ thành ca khúc.

Khau Liêu là gọi theo tiếng Tày, có nghĩa là đèo Liêu. Đứng trên cao nhìn xuống, đèo Khau Liêu mềm mại chạy giữa các dãy núi lô nho của Cao Bằng, giống như một con rồng uốn lượn quanh co, ôm lấy núi.

Đây cũng là con đèo thử tay lái của nhiều dân "phượt" muốn chinh phục khó khăn trước thiên nhiên hùng vĩ. Có thể nói đèo Khau Liêu như một nét chấm phá trong bức tranh đồng quê miền núi tuyệt đẹp của vùng Trùng Khánh.

Không nổi tiếng như đèo Mã Phục nằm trước đó, đèo Khau Liêu mang một nét đẹp nên thơ, đầy màu sắc và hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên. Bạn sẽ có cảm giác hạnh phúc, vui sướng khi vượt qua được độ cao của đèo Khau Liêu. Đứng trên đỉnh đèo phóng tầm mắt xuống dưới, hít thở không khí thanh khiết của núi rừng, thật sự không còn gì thú vị hơn.

Từ đây, thiên nhiên Cao Bằng hiện ra rõ nét, những con người bên dưới trở nên nhỏ bé. Những cung đường vừa đủ cho hai làn xe ôtô vừa mới đi qua giờ cũng chỉ như những dải lụa uốn lượn quanh núi.

Đèo Khau Liêu không chỉ đi vào thơ ca, không chỉ là niềm cảm hứng để các nhà nhiếp ảnh sáng tác mà còn là một chứng tích lịch sử trong sự kiện biên giới năm 1979. Những cây cỏ, những hòn đá xếp, tấc đất đã thấm đẫm máu và mùi thuốc súng thuở nào.

Từ lâu, Khau Liêu là con đèo nhuốm màu sắc huyền thoại, bởi những câu chuyện kể với nhiều tình tiết dị bản. Là con đèo nối huyện Quảng Uyên và Trùng Khánh, mốc trên đỉnh đèo, phía Đông thuộc huyện Trùng Khánh, phía Tây thuộc đất Quảng Uyên.

Du khách thập phương lên Cao Bằng muốn đi thưởng lãm vẻ đẹp kỳ vĩ của động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc, Hang Cô Tiên, Động Ba Se... bằng con đường ngắn nhất đều phải qua Khau Liêu.

Trước kia, khi chưa có đường ôtô, Khau Liêu đã có đường mòn đi tắt, dựng đứng, mà người gánh đi sau mặt chạm chân người lên trước. Người lên xuống dốc đã toát mồ hôi, thở bằng tai, gánh vác càng vất vả muôn phần.

Những người cao tuổi sống ở làng 2 bên đèo kể lại, thuở người Pháp chưa mở đường, rừng cây to vô kể, nhiều hổ báo rình rập, người đi qua đèo phải đeo cái “Pha nam khằng” có 2 dây đeo để xỏ 2 cánh tay vào để tránh làm mồi cho ông Ba Mươi. Pha nam khằng được kết bằng sợi dây vai, buộc nhiều cây “nam khằng” lại với nhau thành một cái gọi là “pha” vừa vặn với lưng người.

Đặc tính của loài hổ là rình rập, vồ và chồm lên phía sau người, thú vật. Khi đeo pha vào hổ không dám vồ từ phía sau. Nếu có con hổ nào đó liều lĩnh vồ người, khi chồm lên, người nhẹ nhàng cúi xuống, co đầu lại, con hổ bị gai nam khằng đâm đau không dám liều vồ cú thứ 2, thứ 3. Loài hổ khi bị đánh đau sẽ vùng chạy vào rừng sâu.


Trong chiến sự năm 1979, đèo Khau Liêu là lá chắn kiên cố, giằng co quyết liệt giữa 2 bên. Đất 2 bên giao thông hào bị cày xới bởi đạn pháo. Mùi thuốc súng, đạn cối nặng nồng.

Trên đỉnh đèo giờ vẫn có tấm bia bằng bê tông ghi “chiến thắng Khau Liêu tháng 2 năm 1979”. Chiến thắng Khau Liêu đã đi vào trang sử của tỉnh Cao Bằng như một chứng tích, một mốc son nhắc nhở thế hệ sau này không được lãng quên.

Trong chiến thuật chiến lược quân sự, con đèo là bản án ngữ, là bức tường thành thiên nhiên kiên cố, dễ phòng thủ, khó tấn công từ hai phía. Chiếm được đỉnh coi như nắm phần chiến thắng. Nhưng trong chiến lược phát triển kinh tế, con đèo đã gây ra sự cản trở về hao mòn máy móc, nguy hiểm đối với các phương tiện tham gia giao thông khi phải leo con đèo quanh co, hiểm trở. Một bên là núi cao chót vót, một bên là vực sâu thăm thẳm. Lưu lượng xe cộ qua lại đèo Khau Liêu cũng không rầm rộ, tấp nập như những con đường huyết mạch quốc gia. Con đèo này cũng đã ghi nhận nhiều vụ tai nạn giao thông gây chết người, thiệt hại về vật chất, tiền bạc.

Trong tương lai đèo Khau Liêu sẽ trở thành đường thẳng băng. Sẽ không còn cảnh đổ xe, ngã vật xuống vệ đường sứt tay, gãy chân nữa. Người làng Bản Khuông và người thông Tả Mèn (xã Quảng Hưng, huyện Quảng Uyên) sẽ nhìn thấy bóng dáng của nhau.

Làng bản thu về trong tầm mắt, người bên này đèo gọi người bên kia đèo nghe thấy. Xe không phải leo dốc hao mòn máy móc, xăng dầu, người không phải gánh vác leo đèo mất sức, toát mồ hôi nữa.

Đèo Khau Liêu sẽ chỉ còn trong trang sách sử để người đời sau biết đến, đèo chỉ còn trong hoài niệm, tâm tưởng của những người đã chứng kiến con đèo với nhiều kỷ niệm, như một chứng tích chiến tranh, khói lửa tràn ngập xóm thôn, đạn pháo khốc liệt thuở nào.

Người làng 2 bên đèo nói chung và người dân 2 huyện Quảng Uyên, Trùng Khánh có quyền lưu nhớ hình ảnh con đèo huyền thoại trong ký ức, cả thời xưa và bây giờ.

Khánh Chi (Thể Thao Việt Nam)
Travel79.net